kỹ thuật nuôi cá kết hợp trồng cây
Vào giai đoạn còn nuôi cây nên tỉa tán và bón nhiều phân đạm, còn vào giai đoạn nuôi quả thì nên bón nhiều kali và giảm lượng đạm xuống để tránh tình trạng lá nhiều không sai quả. Phân lân sẽ được chia làm 2 lần bón, lần đầu vào 60 ngày sau khi trồng và lần 2 sau 150 ngày sau khi trồng. Giai đoạn từ 7 tháng tuổi trở lên:
Lamnong.tv chia sẻ đến bà con kỹ thuật trồng cây ba kích tím cũng như cách chăm sóc chi tiết từ A-Z giúp cây phát triển nhanh, cho hiệu quả kinh tế cao. NUÔI TRỒNG THỦY SẢN. Kỹ thuật nuôi cá; Tưới nước kết hợp với làm sạch cỏ dại định kỳ 2-3 lần trong 1 năm. Bà
Nếu lựa chọn mô hình nuôi trùn này bạn có thể xếp chồng các thùng lên nhau mà không mất nhiều diện tích. Cần tránh trồng kín bởi nếu bịt quá kín trùn quế sẽ không đủ oxy để thở. Cần lưu ý: Bước 1: Đáy thùng cần đục thủng một lỗ nhỏ để thoát nước. Bước 2
Nước được lấy từ bể cá kèm theo các loại chất dinh dưỡng giúp cây phát triển khỏe mạnh. 3. Aquaponics bè nổi hoặc nước sâu. Nếu các bạn có ý định trồng rau kết hợp nuôi cá với quy mô lớn thì có thể tham khảo qua mô hình này. Đối với phương pháp này các bạn sẽ cần chuẩn bị các khay trồng rau với độ sâu từ 30 - 35cm.
Khi cây có 3-4 lá thật, bà con bón thúc phân bón Tiến Nông từ 20-25kg/sào 500m2. Kết hợp xới nhẹ, làm cỏ (không vun đất vào gốc và xới xáo sát gốc để cây phân cành cấp 1). Khi cây có 7- 8 lá thật thì tiếp tục bón thúc, nên xới giữa hàng tạo cho đất tơi xốp, thoáng khí. Cách tốt nhất là bà con nên tưới phun mưa quanh gốc.
Site De Rencontre Pour Personne Sportive. Cá là một loại thực phẩm có giá trị và hàm lượng dinh dưỡng cao. Bên cạnh việc nuôi dưỡng truyền thống đã được áp dụng thời gian trước đây. Hiện nay, để tiết kiệm được chi phí thức ăn, cũng như nâng cao được chất lượng thủy hải sản. Mô hình xen canh, thâm canh kết hợp giữa trồng lúa nuôi cá được bà con nông dân quan tâm đến. Và có những chuyển biến tích cực sau khi áp dụng mô hình mới đầy triển vọng này. Nuôi thủy sản kết hợp tận dụng nguồn tài nguyên tự nhiên được xem là một trong những giải pháp nông nghiệp thông minh và hiệu quả. Tại Việt nam, mô hình nuôi kết hợp cá – lúa cũng đã phát triển và phổ biến ở nhiều địa phương. Đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Mô hình này đặc biệt thích hợp với những nơi có diện tích đất canh tác lúa dồi dào và nguồn nước chủ động. Đem lại nguồn lợi không nhỏ cho thu nhập của người nông dân. Thực trạng nuôi trồng và chăm sóc thủy sản ngày nayÁp dụng mô hình canh tác cá – lúa kết hợpKết quả thu được sau khi triển khai mô hình mớiGiải pháp cần thực hiện để ổn định và phát triển mô hình cá – lúa kết hợpChia sẻ Thực trạng nuôi trồng và chăm sóc thủy sản ngày nay Nhắc đến nuôi thâm canh, xen canh thủy sản trong ruộng lúa. Thì việc thả nuôi cá đồng trong ruộng lúa ở nước ta nói chung và ở Tiền Giang nói riêng đã có từ rất lâu. Cứ vào mỗi vụ lúa mỗi năm. Đây cũng là thời điểm nguồn cá đồng vào ruộng sinh sống và phát triển. Đến kì thu hoạch lúa, bà con nông dân kết hợp thu hoạch cả cá. Mang lại hiệu quả kinh tế gấp đôi. Nuôi cá trên ruộng lúa Dưới áp lực sản xuất nông nghiệp trồng lúa thâm canh tăng vụ ngày nay. Đê bao khép kín, phòng chống triều cường. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, xung điện quá nhiều, khai thác quá mức bằng nhiều hình thức. Đã làm nguồn lợi cá đồng tự nhiên ngày càng cạn kiệt. Thông qua việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Áp dụng ở vùng trũng, vùng thường xuyên ngập nước, vùng cấy lúa mùa 1 – 2 vụ, vùng trồng lúa bấp bênh không ăn chắc. Đây là điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh tế vừa bảo vệ được môi trường sinh thái khi tiến hành theo hình thức này. Nuôi cá trong ruộng lúa là một hình thức canh tác xen kẽ làm tăng thu nhập cho bà con nông dân trên cùng một thửa ruộng. Mô hình này đã được một số địa phương thực hiện theo tập quán cũ nên hiệu quả kinh tế mạng lại thấp. Tuy nhiên, khi các hộ dân áp dụng đúng mô hình kỹ thuật nuôi trồng. Với hình thức nuôi cá-lúa mới thực sự phát huy hiệu quả. Áp dụng mô hình canh tác cá – lúa kết hợp Thông qua hiệu suất thu được thì mô hình canh tác nuôi cá – lúa kết hợp được xem là một trong những hệ thống sản xuất mới giúp ích rất nhiều cho bà con nông dân. Sử dụng hiệu quả mặt nước và ruộng lúa thường xuyên ngập nước vào mùa lũ là một trong những ưu điểm nổi trội khi áp dụng mô hình xen canh này. Thông qua mô hình này, giúp cho cá và lúa hỗ trợ lẫn nhau tạo thành một hệ sinh thái khép kín. Qua đó hạn chế được việc sử dụng hóa chất, phân bón nên an toàn cho con người và cho môi trường. Bên cạnh đó, còn tăng thu nhập, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống. Nâng cao chất lượng cuộc sống của bà con vùng khó khăn. Áp dụng mô hình canh tác cá – lúa kết hợp Áp dụng mô hình thành công, Trung tâm Khuyến nông tỉnh đã thực hiện dự án cá – lúa ở Cái Bè với quy mô 1ha cho 7 hộ nông dân. Cơ cấu con giống thả nuôi 80% sặc rằn, 15% rô đồng và 5% mè vinh. Với mật độ bình quân 10 con/m2 8 sặc – 1,5 rô – 0,5 mè. Qua đó trung tâm Khuyến nông hỗ trợ nông dân 100% giống, 30% thức ăn. Nông dân được tập huấn, hội thảo nắm vững quy trình kỹ thuật chăm sóc và theo dõi quá trình thực hiện mô hình. Đây được xem là mô hình hiệu quả, tốn ít vốn. Phù hợp với khả năng của các hộ nông dân mà lại mang lại thu nhập ổn định cho người dân. Kết quả thu được sau khi triển khai mô hình mới Sau khi mô hình mới được triển khai. Xét về chất lượng thu được có thể thấy khâu đầu tư cải tạo đồng ruộng để kết hợp nuôi cá – trồng lúa khá đơn giản. Bờ ruộng được đắp cao để giữ nước, có mương bao quanh ruộng và ao chứa để làm nơi ương dưỡng cá giống. Chứa cá khi chuyển vụ hoặc khi sử dụng thuốc trừ sâu, hoá chất phòng trừ bệnh cho lúa. Đây là một trong những điểm lợi nổi bật của mô hình này. Tiếp đó là quy trình kỹ thuật đơn giản. Cá giống được thả trước xuống mương ngay từ đầu vụ sản xuất. Sau khi lúa đẻ nhánh xong dâng nước lên cho ngập nền ruộng 20cm để cá lên ruộng kiếm mồi. Kết quả thu được sau khi triển khai mô hình mới Hạn chế côn trùng hại lúa, cỏ dại, ốc và các bệnh về cây lúa. Do cá sử dụng nguồn thức ăn sẵn có trên đồng ruộng. Kết quả sau 8 tháng, lúa vẫn làm liên tục, hiệu quả kinh tế cao hơn 30%. Nhờ năng suất tăng hơn trước 8-10%, đồng thời tiết kiệm các khoản chi phí giống, phân, thuốc trừ sâu. Mô hình nuôi cá-lúa là phương thức hỗ trợ cho nhau cùng phát triển. Cá ăn sâu bọ hại lúa, sục bùn, diệt cỏ dại và thải phân làm phân bón cho cây lúa. Đồng thời khi bón phân cho lúa sẽ góp phần bổ sung thức ăn cho cá. Bên cạnh đó khi thu hoạch lúa, cá sẽ ăn lượng thóc lúa rơi vãi và rơm rạ mục giúp tận dụng tối đa chi phí nguồn thức ăn nuôi cá. Giải pháp cần thực hiện để ổn định và phát triển mô hình cá – lúa kết hợp Mô hình nuôi cá trong ruộng lúa nếu được triển khai rộng rãi sẽ tạo điều kiện để các hộ dân ít vốn tận dụng được diện tích kết hợp nuôi trồng. Tăng thu nhập kinh tế hộ gia đình và tận dụng hạn chế được lượng thuốc hóa học. Đảm bảo nguồn nước sạch, giảm ô nhiễm môi trường sống. Hiện nay một số vùng đã ứng dụng thành công định hướng quy hoạch này. Trong đó có các huyện có tiềm năng áp dụng mô hình cá – lúa như Cái Bè, Cai Lậy, một phần Tân Phước và Châu Thành. Sau khi áp dụng mang lại hiệu quả cao vượt ngoài mong đợi. Việc vận động tuyên truyền các Chi hội nghề cá địa phương. Thành lập tổ nhóm hộ nông dân nuôi cá – lúa. Để thông qua đó dễ dàng tổ chức tham quan, tập huấn hội thảo chuyển giao kỹ thuật cho người nông dân thấy rõ lợi ích thiết thực từ mô hình này. Với hy vọng nông dân sẽ phát huy được thế mạnh từ mô hình mới này. Cần thực hiện giải pháp để ổn định và phát triển mô hình Việc áp dụng mô hình nuôi cá – lúa kết hợp giúp bà con nông dân được lợi cả 2 trong 1. Vừa tăng năng suất và sản lượng sau thu hoạch. Vừa thuận lợi cho việc chăm sóc, nuôi trồng thủy sản. Giúp bà con nông dân nâng cao chất lượng, cải thiện được cuộc sống. Xem thêm tại Phương pháp chăm sóc thủy sản để cập nhật nhiều thông tin mới nhất. Nguồn
Khoa họcTin tức Thứ sáu, 6/9/2019, 1400 GMT+7 Mô hình tự động tuần hoàn khép kín, nước trong bể cá dùng cung cấp chất thải, dinh dưỡng cho rau, sau đó được lọc sạch cấp ngược lại cho cá. Nhóm sinh viên năm thứ 4, Khoa tự động hóa, Học viện nông nghiệp Việt Nam thiết kế thành công và đưa mô hình kết hợp trồng rau thủy canh và nuôi cá tự động giới thiệu tại khu trưng bày "Tự hào sáng tạo Việt" thuộc Triển lãm quốc tế tự động hóa 2019. Đây là mô hình áp dụng công nghệ IoT để giám sát các thông số và điều khiển tự động, được 4 thành viên của nhóm nghiên cứu, thiết kế trong thời gian một năm. Hệ thống gồm bể trồng cây, bể nuôi cá, hệ thống lọc nước và phần mềm giám sát tự động. Nước trong bể cá bao gồm chất thải, phân chứa amoniac, vi khuẩn nitrate hóa sẽ được lọc chuyển hóa sang nitrat, bơm lên bể trồng cây. Sau khi hấp thụ dinh dưỡng, cây trồng lọc sạch nước và cung cấp ngược trở lại cho cá. Khi đó cây có dinh dưỡng để phát triển, cá có nguồn nước sạch để sống mà không cần người tưới và lọc nước. Mô hình kết hợp nuôi cá và trồng rau thủy canh. Ảnh NVCC. Trưởng nhóm nghiên cứu Nguyễn Văn Thành cho biết, mô hình này được thực hiện dựa trên cơ chế cộng sinh, tận dụng lợi ích của rau và cá nên không dùng đất, không phân bón, không cần tưới. Điểm sáng tạo trong mô hình là áp dụng công nghệ IoT để giám sát các thông số và điều khiển tự động. "Chúng tôi đã tìm hiểu và nhờ sự giúp đỡ của thầy cô cùng các kỹ sư để tạo ra bộ cảm biến, đặt trong bể cá và vườn rau. Bộ cảm biến giúp cập nhật các thông số về nhiệt độ, nồng độ oxy hòa tan, độ ẩm. Người dùng chỉ cần kết nối bộ cảm biến với điện thoại. Nếu thông số vượt quá mức cho phép, máy sẽ báo về điện thoại người dùng. Việc theo dõi quá trình phát triển cây trồng và cá sẽ quan sát được từ xa", sinh viên Nguyễn Văn Thành cho biết. Hiện nhóm đang tìm cách tối ưu hóa bằng việc sử dụng pin năng lượng mặt trời để tạo ra nguồn điện vận hành mô hình. "Sau khi hoàn thiện hơn về mặt kỹ thuật, chúng tôi sẵn sàng chuyển giao cho những hộ gia đình và cả doanh nghiệp có nhu cầu muốn ứng dụng", Thành nói.
Aquaponics là mô hình thủy sản kết hợp với trồng rau và hiện được xem như là một mô hình thủy sản bền vững trên phương diện nâng cao năng suất trên cùng một diện tích canh tác và tiết kiệm chi phí vừa thu hoạch cá và rau mà chỉ tốn chi phí cho cá ăn. Mô hình còn mang lại nguồn thực phẩm an toàn cho người tiêu dùng nước thải từ bể cá có chứa thức ăn thừa là nguồn dinh dưỡng sẽ được đưa lên tưới rau, bồn trồng rau hoạt động như một bể lọc sinh học trao đổi tuần hoàn hấp thu các chất thải từ bể cá, đồng thời trả nước sạch và vi khuẩn cố định đạm từ rễ cây hấp thu toàn bộ khí nitrate từ bể cá tạo thành môi trường có lợi cho sự phát triển của cá. Mô hình có thể tận dụng khoảng trống trong sân vườn hay sân thượng, lao động nhãn rỗi cán bộ hưu trí, phụ nữ có thể tự vận hành mô hình, cung cấp thực phẩm sạch cho gia đình và cung cấp ra ngoài thị trường. Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for freeResearchGate has not been able to resolve any citations for this has not been able to resolve any references for this publication.
Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ Nội dung Text Kỹ thuật nuôi ghép trong các mô hình nuôi cá kết hợp KỸ THUẬT NUÔI GHÉP TRONG CÁC MÔ HÌNH NUÔI CÁ KẾT HỢP Bộ môn Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt Khoa Thủy sản – Đại học Cần Thơ 1. MÔ HÌNH NUÔI CÁ – LÚA KẾT HỢP I. Cơ sở khoa học của sự kết hợp lúa – cá 1. Tăng thêm thu nhập góp phần cải thiện đời sống nông dân Ở ĐBSCL có hàng triệu ha ruộng trồng lúa có thể nuôi cá kết hợp được. Tuy nhiên, trên thực tế số ruộng có thả cá nuôi rất ít. Phần lớn ở các ruộng lúa nông dân chỉ lợi dụng vào cá tự nhiên sau mỗi mùa thu hoạch. Nếu mỗi người đều cùng hiểu biết về lợi ích kinh tế và kỹ thuật thì sản phẩm tôm cá nuôi ở ruộng lúa sẽ làm tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân. Hình 1. Mô hình Lúa – Cá kết hợp ở vùng ĐBSCL 2. Nuôi cá có kết hợp cấy lúa, năng suất lúa cao hơn so với ruộng không nuôi cá Khi vận hành mô hình canh tác Lúa – Cá kết hợp, do cá nuôi ở ruộng lúa, cá sục bùn để tìm mồi ở đáy ruộng, đảo dinh dưỡng từ nền đáy ruộng lúa, diệt cỏ dại, côn trùng, sâu bệnh hại lúa, đồng thời phân cá thải ra làm đất ruộng lúa giàu thêm dinh dưỡng. 3. Khả năng tiêu diệt và hạn chế sâu rầy của cá Ở ruộng nuôi cá kết hợp với cấy lúa, người dân rất hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu, nên giảm được nhiều công lao động và hạ giá thành sản phẩm. Tất nhiên, trong quá trình canh tác, nhằm bảo vệ vụ mùa, đảm bảo năng suất lúa canh tác, trong trường hợp lúa nhiễm sâu bệnh, người sản xuất có thể điều tiết nước quanh mương bao và ao liên kề để xử lý thuốc trừ sâu, sau 3 ngày xử lý thuốc, độc tố từ thuốc trừ sâu bị phân huỷ, lúc bấy giờ người nuôi cá dâng nước trở lại ruộng lúa, cá nuôi tiếp tục phát triển bình thường trong ruộng lúa. 4. Tăng thêm thức ăn cho cá Trong quá trình canh tác lúa, do việc trồng lúa cần phải có thời gian trục xạ đất, bón phân vô hay hữu cơ làm tăng thêm thức ăn cho cá, đồng thời trong quá trình canh tác các hạt lúa rụng cũng làm thức ăn tốt cho cá nuôi. Vì vậy cá nuôi ở ruộng chủ yếu dựa và thức ăn tự nhiên, nên ít đầu tư, tốn thêm các chi phí thức ăn cho cá. 5. Mối liên hệ giữa các thành phần trong mô hình nuôi cá – lúa kết hợp - Hạn chế côn trùng phá hại lúa, cỏ dại, ốc, các loại bệnh về lúa do cá tận dụng được nguồn thức ăn sẳn có trên đồng ruộng - Giảm việc sử dụng phân bón thuốc trừ sâu độc hại cho con người và môi trường sống. - Tiết kiệm được lượng giống và phân bón dùng cho hoạt động canh tác lúa - Tận dụng được thời gian nhàn rổi của bà con nông dân trong vụ lúa và thời gian nước lũ dâng lên. - Đa dạng đối tượng canh tác, hạn chế rủi ro và nâng cao thu nhập cho người sản xuất trong điều kiện ruộng lúa. 2. Đặc điểm một số loài cá nuôi phổ biến 1. Cá Mè vinh Barbodes gonionotus Cá Mè vinh là loài cá ăn thực vật, thành phần các loại thức ăn của chúng bao gồm thực vật thủy sinh cây cỏ thủy sinh thân mềm, rau muống, bèo, rong,..., côn trùng, ngoài ra cá cũng ăn thức ăn chế biến. Cá Mè vinh có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, nuôi ghép trong ruộng lúa với mật độ thả từ 1 - 2 con/m2, thức ăn tự chế bổ sung từ các nguồn phụ phế phẩm nông nghiệp với Hình 2. Cá Mè vinh Barbodes gonionotus khẩu phần dao động từ 2 – 3%/khối lượng cá/ngày, trọng lượng cá có thể đạt từ 0,2 - 0,3 kg/con/sau 6 – 8 tháng nuôi. Trong thực tiển khai thác mô hình Lúa – Cá kết hợp, có thể thấy rằng cá Mè Vinh là một trong những đối tượng nuôi chính ở ruộng lúa. Sặc rằn Trichogaster pectoralis Cá Sặc rằn là loài cá thích sống ở nơi môi trường nước tỉnh ao, hồ, ruộng lúa, rừng tràm,... chúng có thể sống trong nước lợ. Trong quá trình sống, do cá có cơ quan hô hấp phụ thở khí trời nên cá có thể sống được ở thủy vực có hàm lượng oxy thấp. Nhiệt độ thích hợp cho cá phát triển từ 28 – 32 0C, pH từ 6 - 8. Hình 3. Cá Sặc rằn Trichogaster pectoralis Cá ăn tạp nhưng thiên về thực vật. Trong điều kiện nuôi ruộng, mật độ thả 1 - 2 con/4m2 có bổ sung thức ăn tinh, cá đạt trọng lượng dao động từ 80 - 100 gam sau 6 tháng nuôi. Rô phi Tilapia Cá Rô phi là loài cá đặc trưng vùng nhiệt đới. Các yếu tố môi trường thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển cá rô phi nhiệt độ 24 – 32 0C, pH - Cá rô phi là loài rộng muối, cá sống trong nước ngọt, lợ và mặn 32 ‰. Cá tăng trưởng khá, sau 8 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng bình quân 300 - 500 Hình 4. Cá rô phi Oreochomis niloticus L. gram/con. 4. Cá Chép Cyprinus carpio Cá Chép phân bố rộng, cá sống chủ yếu trong nước ngọt. Nhiệt độ thích hợp cho cá Chép phát triển từ 22 – 32 0 C, pH dao động từ 7 - 8. Cá sống tầng đáy là chủ yếu, thức ăn của chúng bao gồm các sinh vật đáy nhuyễn thể, ấu trùng côn trùng, thực vật thủy sinh,.... Cá ăn được thức ăn chế biến cám, tấm, bột ngũ cốc, cá tạp, phế phụ phẩm Hình 5. Cá Chép Cyprius carpio nhà bếp,... Hường Helostoma temmincki Cá sống ở tầng nước giữa và tầng mặt, phân bố ở các thủy vực nước tỉnh. Nhiệt độ thích hợp cho cá phát triển từ 26 – 32 0C, pH 6,5 - Cũng như cá Rô đồng, cá Sặc rằn, cá Hường cũng có cơ quan hô hấp phụ thở khí trời nên có thể sống trong môi trường thiếu hay không có dưỡng khí trong khoảng thời gian nhất định. Cá ăn thực vật là chính, cá có khả năng tăng trưởng chậm, sau 6 - 8 tháng nuôi cá đạt trọng lượng bình quân 80 gam/con. Hình 6. Cá Hường Helostoma temmincki 6. Cá Tai tượng Osphronemus gouramy Lacepede, 1802 Cá Tai tượng là loài cá đặc trưng của vùng nhiệt đới. Cá có cơ quan hô hấp khí trời nên có thể sống được trong điều kiện thiếu oxy. Cá có thể chịu đựng được giá trị pH giảm còn 4,5 đồng thời có khả năng phát triển tốt ở pH 6,5 - 8, sống được ở nồng độ muối đến 8 ‰. Cá tăng trưởng nhanh trong khoảng nhiệt độ từ 26 – 32 0C, ở nhiệt độ thấp cá lớn chậm và Hình 7. Cá Tai tượng Osphronmus thường hay bị bệnh. Cá Tai tượng là loài cá ăn tạp thiên về gouramy thực vật. Giai đoạn nhỏ cá ăn động vật phù du, côn trùng; khi lớn cá ăn thực vật là chính. Cá Tai tượng là loài có kích thước lớn, tuy nhiên tốc độ sinh trưởng tương đối chậm, trong điều kiện ao nuôi sau một năm cá đạt trọng lượng từ – 1 kg/con. 6. Cá Mè trắng Hypophthalmychthys molitrix Cá Mè trắng Trung Quốc Hypophthalmychthys molitrix là loài cá đặc trưng của khu hệ cá đồng bằng ở Trung Quốc, cá phân bố chủ yếu ở lưu vực sông Trường Giang, sông Châu Giang, sông Tây Giang và sông Hắc Long Giang. Cá Mè trắng Trung Quốc được nhập vào Việt nam năm 1964. Trong các loại hình thủy vực cá phân bố chủ yếu ở tầng mặt và tầng giữa, hoạt động nhanh nhẹn, Hình 8. Cá Mè Trắng hay nhảy cao khỏi mặt nước khi có động. Cá thích sống Hypophthalmychthys molitrix trong môi trường nước thoáng, rộng, nơi sâu, hàm lượg oxygen cao, nhiệt độ thích hợp cho cá là 22 – 25 oC, pH dao động từ 7 - 8. Cá lớn nhanh, khi ương cá bột ở ao đất, sức lớn bình quân 1,2mm/ngày và tăng trọng 0,01 - 0,02 g/ngày. Từ cá hương ương thành cá giống, cá tăng trọng bình quân 4,19 g/ngày. Ở thời kỳ nuôi cá thịt, ở miền Bắc Việt Nam sau 1 năm đạt 0,5 - 0,7 kg, 2 năm 1,5 - 1,8 kg, 3 năm 4,6 kg, trong trường hợp cá biệt có con nặng tới 9 – 10 kg Cẩm Văn Lung, 1974. Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, trong điều kiện những ao rộng hay ở ruộng lúa ngập nước sâu vào mùa mưa cá lớn rất nhanh, sau một năm đạt 0,5 - 1 kg/con. III. CHỌN ĐIỂM VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH NUÔI 1. Chọn vị trí xây dựng mô hình nuôi - Nguồn nước Vấn đề quan trọng hàng đầu trong quá trình nuôi cá là phải đảm bảo nguồn nước tốt và cấp thoát nước một cách chủ động. Điều cần lưu ý khi chọn điểm nuôi cá là phải biết được sự biến động của nguồn nước theo mùa và theo năm, đặc điểm khí tượng thuỷ văn của vùng để có thể dự đoán và ngăn chặn thất thoát cá nuôi trong mùa ngập lũ hoặc mùa mưa bão. - Chọn đất có đặc tính tốt, cơ cấu đất phải giữ được nước và không hoặc đất bị nhiễm phèn nhẹ. - Lịch thời vụ sản xuất nông nghiệp của địa phương để biết được mức độ ô nhiễm hiện tại và tiềm tàng do sử dụng nông dược trong sản xuất nông nghiệp. Những nơi sử dụng nhiều nông dược nhất là thuốc trừ sâu có tính lưu dẫn cao và thời gian phân hủy kéo dài sẽ làm ảnh hưởng đến cá nuôi. Khu vực nuôi cá nếu tiếp giáp với khu sản xuất màu sẽ có nguy cơ bị nhiễm độc nông dược do phun xịt hay khi cấp nước vào khu nuôi cá. - Thuận lợi trong việc đi lại giúp cho việc chăm sóc, quản lý, vận chuyển thức ăn, nguyên nhiên vật liệu cũng như tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp - thủy sản được dễ dàng. 2. Tiêu chuẩn kỹ thuật của mô hình Lúa – Cá kết hợp - Diện tích ruộng lúa khai thác mô hình kết hợp ít nhất m2. Diện tích ruộng lúa thích hợp nhất cho mô hình trong giới hạn từ 1 – 2 ha/mô hình/hộ nuôi. - Có ao ương nuôi liền kề hoặc 4 mương bao xung quanh, chiếm tỉ lệ khỏang 25 – 30 % so với tổng diện tích ruộng lúa. - Bờ bao quanh, có cống cấp và thoát nước nhằm điều tiết chất lượng nước trong hệ thống sản xuất kết hợp. 3. Thiết kế ruộng nuôi Cá – Lúa kết hợp Diện tích ruộng nuôi trong giới hạn khoảng 0,5 - 2 ha là thích hợp. Tùy theo điều kiện cụ thể, người dân có thể thiết kế hệ thống canh tác kết hợp theo nhiều dạng như dạng mương chữ L, dạng mương trung tâm, dạng mương xương cá. Trong mô hình canh tác này để tiện lợi và đạt hiệu quả cao trong quá trình vận hành nên chọn dạng mương bao quanh hoặc có ao liên kề với ruộng nuôi là thích hợp và hiệu quả nhất, do rất thuận lợi cho người tham gia sản xuất qui hoạch và định hướng phát triển sản xuất bền vững. a. Ao đất liền kề với ruộng canh tác lúa sản xuất kết hợp Với các chức năng ương, nuôi và dưỡng cá ao chứa ao đất liền kề với ruộng lúa có diện tích chiếm tỉ lệ nhỏ nhất từ 30 – 40 %, ao được thiết kế và xây dựng theo các tiêu chuẩn kỹ thuật và qui cách như sau - Ao có dạng hình chữ nhật là tốt nhất - Chiều sâu ao từ 1,8 – 2,5 m - Ao có hệ số mái thích hợp với độ sâu ao, tránh đất bờ ao không bị sụp lở - Ao cũng phải có cống cấp và cống thoát riêng biệt, nhằm chủ động được nguồn nước cho hệ thống ao nuôi. - Mực nước trong ao được điều chỉnh sao cho phù hợp theo các chức năng của ao sử dụng đồng thời gắn liền với hoạt động sản xuất của ruộng lúa. b. Bờ bao quanh - Bờ bao quanh được đắp và đầm nén chắc chắn theo qui cách như sau − Chiều rộng mặt bờ 2 - 3 m − Chiều rộng chân bờ 3 - 4 m − Chiều cao bờ phải cao hơn mực nước cao nhất trong năm giới hạn từ 20 – 30 cm - Tác dụng của bờ bao quanh − Giữ không cho cá nuôi thoát ra ngoài và cá tạp xâm nhập vào trong. − Giữ nước không bị rò rĩ, làm thay đổi môi trường nuôi. − Để sử dụng hiệu quả diện tích đất sản xuất, bờ bao có thể trồng dưa, khổ qua, bí, mướp, ớt để tăng thêm thu nhập − Có thể đi lại trên bờ dễ dàng để chăm sóc và quản lí ruộng canh tác. c. Mương bao quanh ruộng lúa - Đào cách bờ 0,5 m để tránh đất đá xói lở từ bờ xuống mương - Chiều rộng mương Bề rộng mặt 3 m; Bề rộng đáy là 2,5 m - Chiều sâu mương bao là 1,2 m - Mương dốc dần về phía cống - Mương bao quanh có tác dụng - Giữ được lượng nước quanh năm, để chứa cá khi làm đất cấy lúa cho các vụ sản xuất kế tiếp - Giữ và duy trì sự hoạt động của cá, khi sử dụng thuốc trừ sâu để trị bệnh cho lúa - Nuôi giữ và dồn cá khi thu hoạch - Lấy nước để tưới hoa màu quanh bờ d. Cống cấp và thoát nước - Mỗi ruộng cần có ít nhất một cống, cống có thể bằng xi măng, ống sành hay gỗ tuỳ điều kiện gia đình, tốt nhất nên dùng cống xi măng - Tác dụng của cống - Chủ động điều tiết nước cấp và thoát nước cho ruộng lúa. - Tháo nước cho ruộng lúa sạ, cấy lúa khi sử dụng thuốc trừ sâu và khi thu hoạch. e. Mặt trảng ruộng lúa Là phần mặt ruộng còn lại dùng để trồng lúa. Để thuận lợi cho việc canh tác lúa cần có kế hoạch điều chỉnh mức nước trên ruộng, mặt ruộng cần được làm bằng phẳng. Mặt ruộng Bờ bao quanh Lưới chắn Mặt cắt ngang ruộng lúa nuôi cá kết hợp Mương bao Ao Ruộng lúa Sơ đồ. Ao và ruộng lúa liên kề trong mô hình Lúa – Cá kết hợp 12 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Sơ đồ. Lịch thời vụ cho mô hình sản xuất Đông – Xuân Lúa –cáCá kết hợp Vụ nuôi Hè - Thu IV. CÁC MÔ HÌNH NUÔI CÁ TRONG RUỘNG LÚA 1. Nuôi xen canh Nuôi kết hợp - Ưu điểm của mô hình o Tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích ruộng lúa. o Tận dụng mặt nước và thức ăn tự nhiên có sẵn trên ruộng. o Cá ăn côn trùng, rong tảo, đồng thời thải phân bổ sung chất dinh dưỡng làm lợi cho ruộng lúa. o Sử dụng phân bón cho lúa sẽ làm gia tăng thức ăn tự nhiên của cá. - Hạn chế của mô hình cá – lúa kết hợp o Mật độ thả nuôi rất thấp 0,5 – 1 con/m2. Năng suất cá nuôi thấp từ 300 – 400 kg/ha. Trong điều kiện thả 2 con/m2, trong quá trình nuôi có cho cá ăn bổ sung thức ăn tự chế từ các nguồn phụ phế phẩm nông nghiệp từ 2 – 3 %/khối lượng/ngày, năng suất cá nuôi có khả năng tăng lên 700 – 800 kg/ha. o Các giống lúa canh tác hiện nay phần lớn dễ nhiễm sâu rầy, do đó việc sử dụng nông dược trong canh tác lúa là điều khó tránh. o Mức nước trên mặt ruộng đối với canh tác lúa khoảng 10 - 20cm, với mức nước này sẽ gây ra biến động lớn về một số yếu tố môi trường. Hơn nữa khi lá lúa ngập nước phân hủy sẽ làm tiêu hao oxy trong nước ảnh hưởng xấu đến cá nuôi. 2. Nuôi luân canh Một vụ lúa luân canh với 1 vụ cá, tôm - Ưu điểm o Lợi nhuận mang lại từ hoạt động nuôi cá cao hơn canh tác lúa. o Tăng độ phì nhiêu của đất do thức ăn, phân của cá tích lũy ở mặt ruộng. o Giảm chi phí cho việc chuẩn bị ruộng và phân bón cho vụ Đông - Xuân. - Hạn chế o Chi phí đầu tư ban đầu lớn cho công trình, đê bao quanh và lưới chắn xung quanh. o Vốn đầu tư cao về con giống cũng như thức ăn, chăm sóc, bảo vệ. o Yêu cầu người nuôi phải hiểu biết đối tượng nuôi và quy trình kỹ thuật ứng dụng. V. CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT VẬN HÀNH MÔ HÌNH LÚA – CÁ 1. Chuẩn bị ruộng lúa nuôi cá - Sau khi thu hoạch lúa, dọn sạch rơm rạ, cỏ trên ruộng lúa; sên vét lớp bùn đáy ở mương bao, chỉ để lại lớp bùn 15 - 20 cm. Cho nước vào ngập ruộng ngâm vài ngày rồi xả bỏ. Những ruộng có hệ thống mương bao mới đào thì cần lấy nước vào ngâm vài lần để rửa và xổ phèn. - Bón vôi sử dụng vôi nông nghiệp CaCO3 hay vôi nung CaO 10 - 15 kg/100m2. Bón vôi sau khi đáy mương bao đã được tát cạn, vôi được rải khắp mương và bờ ruộng. Bón vôi ngoài việc diệt tạp, tiêu độc đáy mương nó còn tạo điều kiện cho giá trị pH được điều chỉnh thích hợp, thuận lợi trong việc tạo thức ăn tự nhiên ban đầu có ích cho cá nuôi giai đoạn nhỏ. - Phơi mặt ruộng và đáy mương bao khoảng 2 - 3 ngày, tránh phơi quá lâu làm cho mặt ruộng bị nứt nẻ nhiều, đất ruộng nhiễm phèn có thể bị xì phèn. - Cấp nước vào ruộng nuôi phải qua lưới lọc lưới cước a = để ngăn chặn địch hại và tép cá tạp vào làm giảm sản lượng nuôi và cạnh tranh thức ăn. Khi mực nước trong mương bao đạt 1,2 m thì có thể bón phân vô cơ DAP từ 100 - 150 g/100m2 để gây màu nước hoặc phân hữu cơ 7 – 10 kg/100m2. Lợi ích của việc bón phân là để hạn chế tảo đáy phát triển, tảo sẽ hấp thu các sản phẩm Nitơ và Phospho trong nước hạn chế nguồn gây ô nhiễm và làm ổn định nhiệt độ, pH. 2. Chọn đối tượng đầu tư khai thác a. Chọn giống lúa Mô hình lúa – cá kết hợp là mô hình tận dụng triệt để nguồn thức ăn tự nhiên trên ruộng lúa và hạn chế tối đa việc sử dụng hoá chất trên đồng ruộng do đó cần phải chọn giống lúa có thể kháng sâu bệnh tốt như MTL – 141, MTL – 149, MTL – 159, IR60820 – 81 - 2 - 1, IR64 …Tốt nhất nên chọn phương pháp sạ hàng để sạ lúa b. Chọn loài cá thả nuôi Mặc dù phần lớn các loài cá nước ngọt đều có thể được chọn nuôi trong ruộng. Tuy nhiên khi chọn loài cá thả nuôi cần lưu ý - Đối tượng nuôi phải có khả năng thích nghi, phát triển tốt và ăn các loại thức ăn tự nhiên có sẵn trong ruộng. - Khả năng đầu tư thức ăn, phân bón của người nuôi. - Đảm bảo số lượng giống thả. - Điều quan trọng là thị hiếu của người nuôi và nhu cầu của thị trường tiêu thụ. Các đối tượng phổ biến hiện nay được nuôi trong ruộng lúa là cá Mè vinh, Chép, rô phi, Sặc rằn, Rô đồng, Hường, Bống tượng và Thát lát... 3. Kỹ thuật nuôi cá trong mô hình Lúa – Cá kết hợp Mật độ thả cá nuôi trong ruộng lúa kết hợp Mật độ cá thả nuôi còn tuỳ thuộc vào độ màu mỡ của nước và lượng thức ăn cung cấp bổ sung. Do vậy trong ruộng lúa, các loài cá nuôi có thể thả cá với mật độ liên hệ đến khả năng quản lý ruộng nuôi kết hợp như sau - Không cung cấp thức ăn bổ sung 0,5 – 1 con/m2 - Cung cấp thức ăn bổ sung bằng những phụ phế phẩm nông nghiệp ở địa phương, khẩu phần 2 - 3 %/khối lượng cá/ngày 2 con/m2 - Ruộng nuôi có đầu tư thức ăn bổ sung thông thường, khẩu phần dao động từ 5 – 7 %/khối lượng/ngày thì mật độ thả nuôi có thể từ 3 - 5 con/m2. Chất lượng con giống thả nuôi là rất quan trọng, do đó phải chọn cá khỏe, có kích cỡ tương đối đồng đều, màu sắc bóng sáng, bơi lội nhanh nhẹn. Cỡ cá giống từ 200 - 300 con/kg. Cơ cấu thả ghép trong mô hình nuôi kết hợp Lợi ích của việc nuôi kết hợp giữa các loài cá thả nuôi - Tận dụng không gian, tầng nước để cá có thể phân bố tồn tại, sử dụng nguồn thức ăn trong hệ thống nuôi do các đối tượng chọn nuôi có tính ăn và tầng nước sinh sống khác nhau. - Tăng năng suất trên một đơn vị diện tích mặt nước. Hạn chế rủi ro do thị trường các loài cá nuôi biến động. - Tỉ lệ thả kết hợp giữa các loài cá nuôi có thể tham khảo với các công thức sau Công thức 1 Loài cá thả nuôi Tỉ lệ % Mè vinh 50 Rô phi 30 Chép 20 Công thức 2 Loài cá Tỉ lệ % Mè vinh 50 Rô phi 20 Sặc rằn 20 Chép 10 Công thức 3 Loài cá Tỉ lệ % Mè vinh 50 Rô phi 20 Mè Trắng hay Mè hoa 15 Chép 15 Thời gian sạ lúa và thả cá nuôi • Sạ lúa - Vụ Hè – Thu bắt đầu từ khoảng giữa tháng 2 đến giữa tháng 6, sau khi kết thúc vụ đông – xuân - Vụ Đông – Xuân bắt đầu sau khi nước rút và thu hoạch các loài cá, tháng 11 đến tháng 3 • Thả cá - Nên thả cá sớm hơn sau khi sạ lúa vài ngày vào khoảng giữa cuối tháng 2. Thả cá giống vào ruộng lúa sớm sẽ có lợi cho mô hình hoạt động. - Cá dữ ít hoặc không có nên tỷ lệ sống đạt rất cao Thời gian nuôi dài, cá lúc thu hoạch lớn lúc đầu cá giống được thả ở ao trử và mương bao chưa cho lên mương ruộng. Sau khoảng 40 – 50 ngày thì dâng nước lên cho cá nuôi vào ruộng, lúc này lúa canh tác đã lớn. Vận chuyển và thả cá nuôi Nên vận chuyển cá lúc trời mát để tránh gây sốc và tổn thương cho cá. Nên thả cá lúc sáng sớm hay chiều mát. Trước khi thả cá cần ngâm bao trong nước ao từ 10 - 20 phút để cân bằng nhiệt độ bên trong bao và bên ngoài Hình 8. Thả giống cá nuôi trong ruộng lúa môi trường nước. Khi nhiệ t độ bên trong và bên ngoài bao tương đối cân bằng thì mở miệng bao cho nước bên ngoài vào trong bao, sau đó hạ từ từ cho cá bơi ra bên ngoài. 6. Quản lý cá nuôi Thức ăn bổ sung Một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong hoạt động nuôi thủy sản là nhân tố thức ăn Tacon, 1995. Do vậy, để cá nuôi có thể phát triển tốt, ruộng lúa rất cần được bổ sung thức ăn cho cá nuôi mhằm đảm bảo chất lượng dinh dưỡng và số lượng cho ăn. Thức ăn tươi bao gồm cá, tép, cua, ốc, hến...các phế phẩm từ nhà máy chế biến thủy sản. Thức ăn tươi rất dễ làm chất lượng nước xấu đi nhanh chóng, hệ số tiêu tốn thức ăn cao. Thức ăn viên công nghiệp, thức ăn tự chế biến các thành phần dinh dưỡng đã được phối chế phù hợp với từng giai đoạn tăng trưởng của đối tượng nuôi. Qui trình công nghệ sản xuất thức ăn hiện đại đảm bảo chất lượng thức ăn, thời gian bảo quản lâu, hệ số thức ăn thấp, ít ảnh hưởng đến chất lượng nước trong hệ thống nuôi. Trong quá trình nuôi, tuỳ vào điều kiện thực tế, có thể kết hợp thức ăn viên và thức ăn tự chế biến. Một số công thức thức ăn được phối trộn như sau - Công thức 1 Cám 70 % + Bột cá 25 % + Chất kết dính 5 % - Công thức 2 Cám 70 % + Ốc ruột xay nhỏ 25 % + Chất kết dính 5 % Phương pháp cho cá ăn - Trong thời gian đầu cá còn nhỏ khả năng bắt mồi kém, yêu cầu thức ăn có chất lượng dinh dưỡng cao, do đó nên sử dụng thức ăn viên nổi hàm lượng đạm từ 25 – 30 %. Cho ăn 3 - 4 lần/ngày. - Khi cá lớn 30 – 50 g/con nên cho ăn bổ sung thức ăn tinh như tấm nấu chín phối trộn với bột cá hoặc ốc, cua xay nhỏ. - Lượng cho thay đổi theo tháng nuôi Hai tháng đầu 10 % trọng lượng cá, tháng thứ 3 - 4 cho ăn 7 %, tháng 5 - 6 cho ăn 5 % và những tháng sau cho ăn 3 % tuy nhiên lượng cho ăn phải được điều chỉnh theo mức độ ăn mồi của cá. Để điều chỉnh lượng cho ăn phù hợp cần lưu ý một số yếu tố như - Theo dõi mức độ ăn mồi của cá, nếu sau 30 phút cá ăn hết là đạt yêu cầu. Trường hợp cá ăn hết nhanh trong thời gian ngắn thì phải tăng thêm lượng thức ăn. - Khi nước ao bị dơ hay có mùi nên giảm lượng cho ăn. Thời kỳ sử dụng nông dược trên ruộng. Lúc này cá ở dưới mương 10 – 15 ngày, cho cá ăn bằng cách rãi điều trên mặt hoặc cho ăn vào sàn tập trung ở nhiều nơi trong mương. 7. Chăm sóc và quản lý lúa Sau khi lúa sạ 3 – 5 ngày tiến hành cho nước vào ruộng, sau đó điều chỉnh mực nước theo tốc độ phát triển của cây lúa, nhằm mục đích tạo điều kiện cho cây lúa tăng trưởng tốt, đồng thời ngăn chặn và hạn chế cỏ dại phát triển. Công việc bón phân cần được xem xét kỷ nhằm tránh thiếu hoặc quá dư không tốt cho cây lúa và tạo kiện cho sâu bệnh phát triển. Có thể chia làm ba đợt bón phân như sau − Đợt 1 Từ 10 – 15 ngày sau khi sạ lúa, bón phân Ure liều lượng 45 – 55 kg/ ha. − Đợt 2 Từ 25 – 30 ngày sau khi sạ lúa bón phân Ure liều lượng 65 – 70 kg/ha và DAP liều lượng 45 – 55 kg/ha − Đợt 3 Từ 40 - 45 ngày sau khi sạ lúa, bón phân + Ure liều lượng 45 – 55 kg/ha + NPK liều lượng 45 – 55 kg/ha - Ngoài việc sử dụng phân bón nông dân còn xịt các loại thuốc khác để ngừa bệnh, giúp chắc hạt, rướt hạt hay hạt bắt đầu ngậm sửa với các loại thuốc như Regent, Topsin, Alvil… - Đối với thuốc trừ sâu thì áp dụng phương pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp IPM nên không phun thuốc trừ sâu. - Sau khi lúa đạt 90 – 100 ngày tuổi thì lúa này đã chín có thể thu hoạch được. - Hoạt động điều tiết mực nước trên ruộng - Tuần đầu mới thả cần phải giữ cá ở mương, sau khi sạ lúa được 40 – 50 ngày tuy nhiên đối với ruộng cấy lúa thì sau 20 – 25 ngày thì dâng nước để cá lên ruộng tìm kiếm thức ăn. Trong suốt thời gian chăm sóc lúa và cá nuôi nên duy trì mức nước tối đa thường từ 60 – 120 cm. - Khi sử dụng nông dược hoặc bón phân hoá học, phải rút nước cho cá xuống ao liên kề, mương bao quanh chờ 3 – 5 ngày thuốc hết độc do ánh sáng hay nhiệt độ tăng cao phân hủy thì cấp nước trở lại cho cá lên ruộng. - Sau khi thu hoạch lúa Hè – Thu, cấp nước lên ruộng đến mức tối đa cho cá mau lớn. - Khi sử dụng thuốc nông dược cần lưu ý các loại thuốc không được sử dụng như Furazon, Fastac, Thiodan, Decis, Sherpa. 8. Quản lý chất lượng nước hệ thống nuôi cá kết hợp Thay nước cho hệ thống nuôi cá kết hợp Thay nước khi chất lượng nước xấu đi, nước có mùi hôi,... cá nổi đầu vào sáng sớm, chỉ nên thay nước khoảng 20 - 30 % để tránh tình trạng cá bị sốc. Việc thay nước sẽ làm tăng thêm oxy, giảm các chất độc trong hệ thống nuôi, kích thích cá hoạt động và bắt mồi. Lưu ý khi thay nước phải xác định được nguồn nước cấp có đảm bảo yêu cầu về chất lượng hay không để tránh tình trạng làm xấu đi hoặc ô nhiễm chất lượng nước trong ruộng nuôi. Vào đầu mùa mưa, mùa ngập lũ phải thường xuyên kiểm tra đăng, cống,...dọn cỏ quanh bờ bao quanh tránh để nước dâng cao ngập cỏ gây phân huỷ vật chất hữu cơ làm suy giảm hàm lượng oxygen cho hệ thống nuôi kết hợp. Nông dược sử dụng trong ruộng lúa Trong quá trình nuôi lưu ý việc sử dụng nông dược trong canh tác lúa cũng như hoa màu của các nông hộ kế cận để hạn chế đến mức thấp nhất khả năng nhiễm sang ruộng nuôi cá. Nhiệt độ nước Để nhiệt độ trên bề mặt ruộng lúa không biến động lớn, mực nước trên bề mặt ruộng lúa thấp nhất phải đạt được từ 60 – 120 cm, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các loại thức ăn tự nhiên làm thức ăn và không gian cho cá nuôi trong ruộng lúa hoạt động và phát triển. Oxygen DO ppm Trong ruộng lúa nuôi kết hợp hàm lượng oxy hoà tan trong nước có sự biến động khá cao giữa ngày và đêm, thấp nhất vào lúc sáng sớm và cao nhất lúc 3 – 4 giờ chiều. Để đảm bảo hàm lượng oxy cao trong ruộng nuôi lưu ý thời điểm cải tạo ruộng nuôi phải dọn sạch rơm rạ trên mặt ruộng để hạn chế phân hũy hữu cơ khi cấp nước vào. Biện pháp để tăng cường và ổn định oxy ở mức cao là thay nước khi nước có màu quá xanh màu xanh đậm hay có màu xám. pH nước pH trong hệ thống nuôi biến động theo sự phát triển của tảo. pH tăng khi tảo quang hợp và phát triển mạnh. Những cơn mưa đầu mùa, nhất là đối với những hệ thống nuôi mới xây dựng, sẽ rửa phèn từ bờ xuống hệ thống nuôi làm pH giảm. Ngoài ra sự phân huỷ mùn bả hữu cơ ở đáy ao cũng làm cho pH ở tầng này thấp. Dùng vôi CaO hay CaCO3 liều từ 7 - 10 kg/100m2 rải quanh bờ trước những cơn mưa lớn. Nếu pH nước xuống dưới 7 thì dùng vôi nông nghiệp CaCO3 hoặc Dolomite đá vôi đen CaMgCO32 bón với lượng 2 - 3 kg/100m2. Địch hại Bao gồm các loài cá tạp, cá dữ, cua, rắn, ếch, chim,... tấn công trực tiếp đến cá hay gián tiếp thông qua sự cạnh tranh thức ăn. Để hạn chế các đối tượng này bờ bao cần phải có lưới đăng chắn bao quanh ruộng lúa, ao liên kề và nguồn nước trước khi vào hệ thống nuôi phải được cấp qua lưới lọc. 9. Thu hoạch sản phẩm Sau 6 - 7 tháng nuôi, bơm nước hạ dần mức nước ruộng để cá tập trung xuống mương bao, sau đó dùng lưới kéo, số còn lại tát cạn và thu hoạch bằng tay. Năng suất cá nuôi trong ruộng lúa có thể đạt dao động từ 700 – kg/ha. Năng suất cá nuôi dao động tùy thuộc vào đối tượng thả và mức độ đầu tư thức ăn. 10. Một số lưu ý trong hoạt động phòng bệnh cho các loài cá nuôi Hình 9. Thu hoạch cá nuôi trong ruộng lúa Nguyên nhân làm cá nhiễm bệnh Cá nhiễm bệnh là kết quả tương tác chủ yếu giữa ba nhân tố Môi trường - Tác nhân gây bệnh - Ký chủ bản thân cá. - Yếu tố môi trường sự biến động lớn về nhiệt độ, độ pH và hàm lượng oxy hoà tan trong nước thấp sẽ gây sốc hoặc làm cho hoạt động của cá bị suy yếu. - Tác nhân gây bệnh bao gồm bệnh truyền nhiễm virus, vi khuẩn, nấm, bệnh ký sinh trùng nguyên sinh động vật, giun sán, giáp xác,... và các sinh vật gây nguy hiểm cho cá côn trùng nước, cá dữ, rắn, ếch, chim... làm tổn thương đến cá tạo điều kiện cho bệnh ký sinh hay bệnh truyền nhiễm phát triển. - Yếu tố ký chủ Sức đề kháng của cá đối với bệnh. - Yếu tố con người - kỹ thuật nuôi Vận chuyển, đánh bắt làm tổn thương, xây xát cá - Quản lý chăm sóc hệ thống canh tác không tốt, mật độ thả nuôi quá cao. Để hạn chế dịch bệnh xảy ra cho cá cần làm tốt các khâu - Cải tạo ruộng nuôi nhằm hạn chế mầm bệnh phát triển và tạo môi trường thuận lợi cho các loài cá ương nuôi phát triển. - Chọn giống tốt và xử lý cá không nên thả cá mật độ quá dầy, tốt nhất thả 1 - 2 con/m2. Cỡ cá thả từ 250 - 300 con/kg, cá khoẻ, không bị dị hình, không bị xây xát. Cá khi mới mang về cần tắm trong nước muối, pha 15 g muối trong 1 lít nước, ngâm cá trong 15 phút lưu ý không được để cá thiếu oxy trong khi đang ngâm cá. - Chuẩn bị tốt vào thời điểm giao mùa hay mùa mưa bão vào thời điểm giao mùa khả năng phòng chống bệnh của cá yếu, các mầm bệnh dễ phát triển, cá dễ bị nhiễm bệnh. Bón vôi bột quanh bờ vào đầu mùa mưa, dọn cỏ xung quanh bờ. Đối với ruộng canh tác mới xây dựng, môi trường nuôi thường thay đổi, pH giảm, rất cần lưu ý biện pháp xử lý phèn thông qua việc bón vôi bột trên bờ bao quanh ruộng định kỳ nhằm tạo môi trường nuôi với giá trị pH nước ổn định. - Thay nước khi thay nước cần lưu ý phải đảm bảo nguồn nước tốt, chỉ thay nước khi cần thiết để tránh làm sốc cá; mỗi lần thay chỉ nên thay khoảng 20 – 30 % tổng lượng nước trong ruộng nuôi. Để phòng cá nhiễm bệnh, sau khi thay nước nên dùng vôi bột với liều lượng từ 2 – 3 kg/100 m2 hòa tan và tạt khắp ruộng nuôi. Cần phải thận trọng trong việc sử dụng formol cho tôm nuôi trong ruộng lúa, do formol khi xử lý đạt kết quả nhưng chúng sẽ làm giảm DO trong ao hay mương bao quanh ruộng lúa. Thay nước mới thông qua bơm nước là giải pháp khắc phục. - Chăm sóc cá tốt để tăng sức đề kháng bệnh, cho cá ăn đầy đủ về số lượng thức ăn cũng như thành phần dinh dưỡng phải đảm bảo. Vào những ngày thời tiết xấu nên giảm lượng cho ăn và tăng cường thức ăn giàu dinh dưỡng.
Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ Nội dung Text Hướng dẫn kỹ thuật nuôi tôm cá kết hợp lúa nước Phần 1 TS. DỖ ĐOÀN HIỆP m 40 VẤN ĐỀ VỀ NUÔI TÔM CÁ KẾT HỢP TRÊN RUỘNG CÂY LÚA NƯỚC 9 NHÀ XUẤT BẢN HÀ NỘI - 2008 0 LỜI NÓI ĐẦU Sau khi xuất bản bộ sách "Nuôi thuỷ sản nước ngọt", chúng tôi nhận được nhiều ý kiến cửa độc giả, trong đó có ý kiến khá thú vị "Cả nước ta cổ 548. OOOha ruộng cấy lúa nước, trong đó vùng trung du và miền núi phía Bắc có tới Trên vùng ruộng cấy lúa này, hiện nay chưa được sử dụng hết để kết hợp nuôi cá, đó quả là nguồn tài nguyên khá lớn còn để lãng phí. Việc nuôi cá kết hợp không chỉ đem lại sản phẩm thuỷ sản để cải thiện dinh dưỡng, mà còn có đủ khả năng cung cấp tôm cá hàng hoá, mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể cho người dân. Đấy là chưa kể đến Việc nuôi tôm cá kết hợp trên ruộng lúa, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, giảm chi phí cho nông dân, lại giữ được môi trường trong sạch. Nuôi tôm cá trên ruộng cấy lúa mang lại lợi ích "hai trong một". Độc giả muốn áp dụng công nghệ nuôi cá kết hợp trong ruộng cấy lứa - một trong 7 nội dung của bộ sách. Để giúp các bạn đọc xa gần ứng dụng công nghệ hữu hiệu mà đơn giản này, chúng tôi tái bản tập ”35 câu hỏi nuôi cá kết hợp trong ruộng cấy lúa". Tròng lần tái bản này, chúng tôi cố gắng cập nhật nhiều thông tin mới, được truy cập từ mạng Internet và các nguồn tư liệu khác nhằm cung cấp đầy đủ thông tin "nóng hổi " về lĩnh vực thú vị, hữu hiệu này cho những ai có quan tâm, muốn áp dụng công nghệ. Mong muốn cửa chúng tôi thì nhiều, nhưng khả năng và trình độ khó có thể thoả mãn được, tất nhiên chắc còn khuyếm khuyết. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến trao đổi của các bạn đọc. Thư liên hê xin gửi về TRUNG TÂM NGHIÊN c ứ u Hỗ TRỢ XUẤT BẢN SỐ 12, ngõ 30/18 Tạ Quang Bửu, Bách Khoa, Hà Nội. 4 40 Vãn đê kêt hợp nuôi tôm cá trên ruộng cấy lúa nước CÂU HỎI 1 RUÔNG NÀO NUÔI Đươc CÁ? Câu phương ngôn “Đâu có nước, ỏ đó có cá” đúng trong trường hợp này. Nhưng “có cá ” chưa phải là “nuôi được cá Những chân ruộng có khả năng cung cấp nước chủ động mới có thể nuôi được cá. Những chân ruộng cao, mực nước trong ruộng cạn, chỉ chừng 5 - 7cm có thể kết hợp nuôi cá với cấy lúa ở mức độ không lớn; nếu sử dụng để nuôi cá thịt sẽ có hiệu quả thấp và khó khăn. Nhưng nếu dùng để ương cá giống thì hiệu quả không thua kém; đôi khi, còn cao hơn nhiều. Những chân * ruộng, thường xuyên giữ được mực nước từ 30cm đến 50cm thích hợp cho nuôi cá kết hợp cấy lúa. Còn những chân ruộng trũng hoặc ruộng trong vùng ngập; đôi khi nước trong ruộng cao đến lm vào vụ mùa thì quá tốt cho nuôi cá kết hợp hoặc chuyển đổi cơ cấu sản xuất sang nuôi tôm, cá chắc chắn cho hiệu quả cao hơn nhiều so với cấy lúa bấp bênh. Ruộng trũng, là những ruộng có thể giữ được mức nước sâu trên 30cm, thường bị ngập úng về mùa hè thu; nên thường cấy lúa vụ xuân, nuôi cá vụ hè thu; ở miền 5 40 Vấn âề kết hợp nuôi tôm cá trên ruộng cấy lúa nước núi, những ruộng khe vàn, ở giữa hai dãy đồi, núi, có nguồn nước mạch, nếu đắp bờ bao cao, cũng có thể tạo thành ruộng có tính chất như ruộng trũng, cấy lúa vụ xuân, nuôi cá vu mùa. Điểm khác biệt giữa nuôi cá ruộng trũng với nuôi cá ruộng nông, bậc thang là diện tích ruộng trũng thường lớn hơn, từ vài nghìn m ét vuông đến vài vạn thửa; nưđc sâu hơn, thời gian nuôi lâu hơn, thường từ 8 - 1 0 tháng/1 vụ. Các biện pháp kỹ thuật như thả cá, chăm sóc, thu hoạch gần giống với kỹ thuật nuôi cá ao. Các loại cá thả bao gồm các loại cá ăn thực vật nước bậc cao như cá trắm cỏ, cá mè vinh, cá trôi, mrỉgal, nuồi ghép lấy cá chép và mè vinh là chính,... Nguyên tắc của nụôi cá ruộng là Chỉ tận dụng thức ăn tự nhiên có trong ruộng là chính. Bởi vậy, cần thả đủ mật độ để cá có thể tận dụng được các loại thức ăn tự nhiên trên ruộng. Các loài cá được chọn là Chép ăn động vật đấy, mè vinh ăn cỏ; ở những ruộng sâu ữên 70cm nước, có thể thả cá trắm cỏ để cá ăn rong, cỏ, cá mè không phải là đôi tượng thích hợp cho nuôi cá ruộng. Nếu chỉ có chép, mè vinh, năng suất cá dao động từ 300 - 600kg/ha/vụ. Ở những ruộng sâu, khi thả thêm trắm cỏ, năng suất có thể đạt tới 1,2 tấn/ha/năm. 6 40 Vãn đê kẽt hợp nuôi tôm cá trên ruộng cấy lúa nừớc Nguyên tắc thứ 2 của nuôi cá ruộng là cần phải có chỗ cho cá trú ẩn khi trời nóng quá họặc khi bắt buộc phải dừng thuốc bảo vệ lúa, bằng cách đào các mương rộng từ 40 - 50cm, sâu 50 - 60cm trong ruộng, mương có dạng xung qúanh bờ trừ một bờ làm lối lên xuống ruộng để canh tác hay hình chữ thập theo bờ ruộng; cũng có thể đào ở góc ruộng hay giữa ruộng một cái chuôm hình tròn, sâu 50 - 60cm, đường kính 50cm làm chỗ trú cho cá, từ xung quanh chuôm có các mương sâu chừng 30 - 40cm, rộng 20 - 40cm hình phóng xạ dẫn vào chuôm. Khi nuôi cá trên ruộng cây lúa nước, năng suất lúa thường tăng trên 10%, phần dư này đủ bù lại sản lượng lúa mất đi do phải dành đất đào mương, làm chuôm. Mặt lợi khác của nuôi kết hợp cá trên ruộng là cá có thể tiêu diệt một số thiên địch hại lúa như các loại sâu; nhờ đó, • • • m m ' * không phải dùng thuốc bảo vệ lúa, vừa đỡ tốn tiền lại giữ được môi trường sạch sẽ. Theo phương pháp canh tác, người ta chia ra làm 2 loại hình nuôi cá kết hợp trên ruộng cấy lúa là nuôi luân canh và nuôi xen canh. Nuôi luân canh có nghĩa là nuôi cá vụ hè thu vụ mùa, còn cấy lúa vào vụ đông xuân vụ chiêm. Hình thức nuôi này được thực hiện phổ biến ở những vùng ruộng trũng, canh tác bấp bênh vào vụ mùa. 40 Vấn đề kết hợp nuôi tôm cá trên ruộng cấy lúa nước Nuôi xen canh Có nghĩa là vừa cấy lứa vừa nuôi cá, có thể nuôi cá được quanh năm và cấy lúa được cả 2 vụ. Hình thức nuôi này thích hợp với những chân ruộng không cao hoặc hơi thấp, mực nước trên ruộng luôn giữ đựợc không thấp hơn 40cm, nơi có thể chủ động điều tiết nước. CÂU HỎI 2 LOÀI CÁ NÀO NUÔI ĐƯỢC TRÊN RUỘNG? Hầu như tất cả các loài cá đều có thể nuôi được trên ruộng, nhưng có một số loài ít thích hợp, nếu nuôi, sẽ chậm lđn. Ngược lại, có một số loài nuôi mau lổn hơn nuôi trong ao. Tại sao vậy? Bởi vì nuôi cá trên ruộng chỉ tận dụng thức ăn tự nhiên có trong ruộng là chính, hầu như không cho ăn. Cho nên, những loại thức ăn có nhiều trên ruộng như rong, cỏ dại, giun, ốc,... phù hợp cho nuôi cá chép, cá mè vinh, cá trắm cỏ, cá rô phi, cá trôi Ấn, cá diếc, cá mrigal. Đặc biệt là cá chép, cá mè vinh và cá trắm cỏ d những chân ruộng trũng, nơi bị ngập từ 0,5 - lm nước. Gần đây, có đối tượng tôm càng xanh, có thể nuôi tốt trên ruộng, cho hiệu quả kinh tế cao. Khi nuôi cá ruộng, người ta cũng áp dụng phương pháp nuôi ghẻp, ít khi nuôi đơn, để tận dụng được các loại thức ăn có trên đó. Ruộng nuôi cá cần có những điều kiện - Ruọng cây lúa cố nguồn nước sạch, không bị nhiễm 40 Vấn đề kết hợp nuôi tôm cá trên ruộng cấy lúa nước bẩn, chủ động cấp và thoát nước, giữ được mức nước sâu trên 30cm. ♦ 4 - Đất ruộng là đất thịt pha cát hoặc đất thịt nhẹ. - Diện tích ruộng Tùy điều kiện, thường rộng từ 200 - CÂU HỎI 3 MUỐN NUÔI DƯỢC CÁ TRÊN RUỘNG CẦN • * PHẢI LÀM Gì? Muốn nuôi được cá trên ruộng, bắt buộc phải làm “nhà” cho cá, tức là kiến thiết đồng ruộng làm sao cho cá có chỗ trú khi ruộng cạn. CÂU HỎI 4 LÀM “NHÀ” CHO CÁ NHƯ THẾ NÀO? “Nhà ” của cá là những nơi nước sâu hơn mặt ruộng, để cá có thể trú. Đó là các mương đào dọc theo bờ ruộng, đào thành hình chữ thập theo chiều dọc và chiều ngang ruộng, các hô' gọi là chuôm ở giữa ruộng hay bên cạnh ruộng, hoặc góc ruộng, tốt hơn, để dành 1 phần ruộng nơi trũng nhất được đào sâu hẳn xuống so với mặt ruộng, như cái ao nhỏ nằm gọn trong ruộng, ao sâu ít nhất 50cm, rộng tuỳ theo mục đích sử dụng muốn nuôi nhiều cá thì dành nhiều diện tích và điều kiện tự nhiên của ruộng. 9 40 Vấn đề kết hợp nuôi tõm cá trên ruộng cấy lúa nước CÂU HỎI 5 ĐÀO MƯƠNG SÂU BAO NHIÊU LÀ VỬA? Trả lời Là mương nên sâu chừng 50cm, rộng ít nhất 30cm. Là chuôm, nên đào thành hình tròn, có đường kính chừng 1 - l,5m, sâu ít nhất 0,5m; tốt hơn, nên là lm. Tốt hơn cả dành 1 phần ruộng, tại 1 phía bờ nào đó thích hợp, đào sâu xuống chừng 0,5 - 0,7m, như một cái ao nhỏ trong ruộng. Sau mỗi lần thu hoạch, cần phải nạo vét lại mương, chuôm, vì trong quá trình canh tác, bùn trên ruộng xô xuống, lấp đầy chúng. CÂU HỎI 6 DIỆN TÍCH MƯƠNG, AO, CHUÔM TRONG RUỘNG BAO NHIÊU? T r ả lời Người ta đã chứng minh được rằng Khi nuồi cá ruộng, do cá làm cỏ “công làm cỏ là công ăn ”, sục bùn, khiến năng suất lúa trên ruộng được tăng lên đến 10%. Bởi vậy, nếu để diện tích mương đến 10%, năng suất sẽ không giảm. Tuỳ theo điều kiện và thị trường cá ở địa phương mà để diện tích mương từ 10% đến 25% nếu muốn nuôi cá hơn cây lúa. CÂU HỎI 7 CÁCH KIẾN THIẾT ĐỒNG PUỘNG ĐỂ NUÔI CÁ KẾT HỜP? Trả lời 40 Vấn đề kết hợp nuôi tôm cá trên ruộng cấy lúa nước Ruộng có bờ vững chắc, cao hơn mức nước cao nhất ít nhất 20cm, tốt hơn là 50cm. Bờ có làm lải tràn, rộng 20 - 30cm, đáy lải tràn cao bằng mực nước cao nhất có thể giữ trong ruộng. Lải tràn để giữ mực nước nhất định trong mùa mưa, giữ không cho nước tràn bờ khiến tôm, cá đi mất. Cống cấp và thoát nước Tùy diện tích ruộng rộng hẹp để làm cổng với khẩu độ và số lượng cống cho phù hợp. Công được làm bằng ống bê tông, nhựa, tte, mai,... hoặc thân cây gỗ. Thường thi cứ ruộng làm 1 -2 công cấp và thoát nước với khẩu độ cống rộng 10 - 15cm. Chuôm và mương chuôm và mương là nơi tránh nóng cho cá và tập trung cá khi cần phun thuốc trừ sâu, khi thu hoạch. Tổng diện tích chuôm + mương ít nhất bằng 6 - 10% diện tích ruộng. Chuôm làm ở nơi trũng nhất ruộng, ở góc hoặc ở giữa ruộng. Mương làm ở xung quanh ruộng hoặc chữ L hay chữ T hoặc chữ thập tuỳ theo địa hình, diện tích ruộng. Chiều sâu của chuôm 0,5 - 0,6m so vổi mặt ruộng; chiều sâu của mương 0,3 - 0,4m, chiều rộng của mương 0,5m. Mương được nối liền vđi nhau thành một hệ thống. Chuôm và mương được ngăn với ruộng bằng những bờ nhỏ. Trên mặt chuôm thường làm giàn che bằng lá cây để chống nóng cho cá. Dưới chuôm thả các vật như gôc cây 11 40 Vấn đề kết hợp nuôi tôm cá trên ruộng cấy lúa nước cành cây làm nơi trú ấn cho cá gọi là chà. Chuẩn bị ruộng Dùng vôi bột để khử chua, diệt cá tạp 10 - 12 kg/100m2. Nếu ruộng chua có pH 40 Vấn đề kết hợp nuôi tôm cá trên ruộng cấy lúa nước CÂU HỎI 8 THẢ CÁ GIỐNG NUÔI TRÊN RUỘNG NHƯ THẾ NÀO? Trả lời Mùa vụ, thời gian thả cá cần tranh thủ thời gian thả cá để nuôi cá được dài ngày. Có 2 loại hình nuôi cá ruộng - Nuôi xen canh lúa - cá Vụ chiêm thả cá giống nuôi lưu vào ruộng. Tháng 2- 3, sau khi cấy được 7 - 1 0 ngày hoặc gieo thẳng 20 - 30 ngày, khi lúa đã bén rễ, cứng cây. Sau khi thu hoạch lúa chiêm sẽ thu hoạch cá để ăn hoặc giữ trong chuôm hay mang về ao để chuẩn bị lại ruộng cấy lúa, nuôi tiếp vụ mùa. Nếu chỉ nuôi cá 1 vụ mùa thì có thể thả cá muộn hơn, vào tháng 5- 6. - Nuôi luân canh cá - lúa Thường nuôi cá vào vụ xuân sau đó cấy lúa vào vụ mùa ở những chân ruộng vụ mùa nuôi cá không thích hợp quá trũng. Thời gian thả cá cũng giống như nuôi xen canh. CÂU HỎI 9 LOẠI CÁ VÀ QUY CÁCH THẢ CÁ? Các loại cá được nuôi ở ruộng là những loại cá có sức chịu đựng tốt với nước nông, nhiệt độ cao, ăn tạp; như cá chép cá mè vinh, cá mrigal, cá rô phi, cá diếc,... Giới thiệu một số đối ông cá nuôi thích hợp trên ruộng 13 40 Vấn để kết hợp nuôi tôm cá trẽn ruộng cấy lúa nước Cá chép a Phân bố Cá chép là loài phân bô" rộng, ở khắp các nước trên thế giới, ở tất cả các loại hình của thuỷ vực nước ngọt đều thấy chúng. Theo kết quả điều tra của Trần Đình Trọng ở Việt Nam có 7 loại hình cá chép khác nhau, màu sắc đa dạng, những cá chép được nuôi phổ biên nhất là cá chép trắng ở miền Bắc. Hiện nay, ỏ ta, giống cá chép được người nuôi ưa chuộng là giống VI do Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 chọn giống. Cá chép VI có nhiều đặc tính tốt do được tập hợp từ các dòng cá chép chép vẩy Hunggari; chép vàng Indonexia; chép trắng Việt Nam. b Sinh sản Cá chép nuôi ở nước ta thành thục sau một năm tuổi. Cá thành thục và đẻ tự nhiên trong ao hồ, sông suôi nơi có thực vật thuỷ sinh. Trứng đẻ ra dính vào giá thể chìm trong nước. Cá thường đẻ vào khoảng 3 - 4 giờ sáng và kéo dài đến trưa. Cá chép đẻ 2 lần trong năm, mùa chính từ tháng 1 đến tháng 4, mùa phụ từ tháng 8 đến tháng 9. Cá chép thành thục thường đẻ tự nhiên vào những ngày thời tiết thay đổi như mưa gió,... hoặc khi có nước mới. Trứng cá chép có hình cầu, hơi vàng đục. Đường kính trứng 1,2 - l,8mm. số lượng trứng đẻ được phụ thuộc vào cỡ cá. 14 40 Vấn đề kết hợp nuôi tôm cá trên ruộng cấy lúa nước c Tính ăn và sinh trưởng Cá 3 - 4 ngày tuổi dài 6 - 7,2mm, phân bô" ỏ tầng nước trên là chính, 4 - 6 ngày tuổi dài 7,2 - 7,5mm sống ở tầng nước giữa, thức ăn chủ yếu là sinh vật phù du. Cá 8 -10 ngày tuổi dài 14,3 - 19mm, các vây bắt đầu hoàn chỉnh, có vẩy, râu, thức ăn chủ yếu là sinh vật đáy cỡ nhỏ. Cá 20 - 28 ngày tuổi dài 19 - 28mm, chủ yếu sống ở tầng đáy, ăn sinh vật đáy, mùn bã hữu cơ và một ít sinh vật phù du. Khi trưởng thành cá chép ăn sinh vật đáy là chính như nhuyễn thể nhỏ, ấu trùng, côn trùng, giun,... ngoài ra chúng cũng ăn mùn bã hữu cơ, củ, mầm thực vật và sử dụng tốt thức ăn nhân tạo. Cá chép nuôi trong ao bình thường có thể đạt 0,3 - 0,5kg/năm; 2 năm đạt 0,7 - lkg. Năng suất cá chép nuôi quảng canh cải tiến trong ao ở châu Âu khoảng 500kg/ha/năm. Cá trấm cỏ a Phân bố Cá trắm cỏ phân bô" tự nhiên ở các thuỷ vực Trung Á đồng bằng Trung Quốc, đảo Hải Nam, lưu vực sông Amua, nơi biên giới Liên Xô cũ với Trung Quốc, ở Việt Nam, p. chevẽy và Lemasson 1937 đã phát hiện thấy cá trắm cỏ ở sông Hồng, cá trắm cỏ cũng phân bố tự nhiên ở sông Kỳ Cùng Lạng Sơn. Năm 1958 chúng ta nhập cá trắm cỏ từ Trung Quốc, đến năm 1967 đã 15 40 Vẩn đề kết hợp nuôi tôm cá trên ruộng cấy lúa nước thành công trong việc sinh sản nhân tạo, từ đó cá trắm cỏ trở thành đối tượng nuôi phổ biến, có ý nghĩa cho các tình trung du, miền núi và để nuôi cao sản. b Sinh sản Ở Việt Nam cá trấm cỗ thường phát dục khi đạt 2 - 3 tuổi, cá đực phát dục sớm hơn cá cái, nhưng à Trung Quốc cá trắm cỏ phát dục muộn hơn Chung Lân, 1965 cho biết tuổi lần đầu cá sinh sản là 4 - 5 tuổi ở Quảng Đông; 5 - 6 tuổi ở Triết Giang; 6 - 7 tuổi ở sông Amua. Mùa đông, tuyến sinh dục thường ở giai đoạn 2 - 3 , sang tháng 3 - 4 tuyến sinh dục phát triển nhanh, sang giai đoạn 3 - 4 , tuyến sinh dục đạt cực đại vào tháng 5. Cá bô' mẹ nuôi vỗ trong ao thường phát dục sớm hơn cá sông ngoài tự nhiên nên thời vụ cá đẻ cũng sđm hơn. Mùa vụ sinh sản nhân tạo của cá trắm cỏ ở Việt Nam thường từ tháng 3 đến tháng 8. Cá sau khi đẻ xong, nếu được nuôi vỗ tiêp tục từ 25 - 30 ngày có thể cho đẻ tái phát. Mùa vụ sinh sản tự nhiên của cá trắm cỏ sông Hồng là tháng 6 - 7 . Thường trước mùa lũ, chúng tập trung ở thượng lưu các con sông, nơi có các ghềnh thác, hoặc nơi giao lưu giữa hai dòng sông. Nhiệt độ nước thích hợp cho sinh sản 22 - 29°c, lưu tốc nước 1- 1, 7 m/s. Trứng cá trắm cỏ thuộc loại bán trôi nổi, trứng sau khi đẻ xong trôi theo dòng sông và nở 16 40 Vấn đề kết hợp nuôi tâm cá trên ruộng cấy lúa nước thành cá bột. Sức sinh sản thực tế trong sinh sản nhân tạo là - trứng/kg cá cái Lương Đình Trung, 1968. c Tính ăn Cá sau khi nở 3 ngày dài khoảng 7min, chúng bắt đầu ăn luân trùng, ấu trùng không đốt và tảo hạ đẳng. Khi cá dài 2 - 3cm bắt đầu ăn một ít mầm non thực vật, tỷ lệ luân trùng trong thức ăn giảm dần nhưng các loài giáp xác phù du vẫn chiếm thành phần chủ yếu. Cá dài 3 - 10cm có thể nghiền nát được thực vật thượng đẳng, chuyển sang ăn thực vật thuỷ sinh non Chung Lân, 1965. Thức ăn tự nhiên của cá trắm cỏ trưởng thành chủ yếu là thực vật thượng đẳng cả dưới nưốc và trên cạn, một ít côn trùng, giun. Sức tiêu thụ thực vật của cá trắm cỏ rất lớn 22,1 - 27,8% khối lượng cá/ngày. Trung bình, cứ 30 - 40kg cỏ hay 50 - 60kg/rong sẽ cho tăng trọng lkg cá. Cá trắm cỏ cũng sử dụng tốt thức ăn nhân tạo, nhvftig nếu thành phần thức ăn có nhiều tinh bột cá sẽ bị béo, chậm lớn. d Sinh trưởng Trong điều kiện thực tế ở Việt Nam, khi ương với mật độ 180 - 200 cá bộưm2 trong 25 - 30 ngày cá đạt chiều dài 3 - 3,lcm, nặng 140 - 240mg. Ở giai đoạn ương cá giông với mật độ 10 con/m2, sau hai tháng nuôi cá dài khoảng 10 - 12cm. Trong ao nuôi cá thit, cá 1 năm tuổi 17 40 Vấn đề kết hợp nuôi tôm cá trẽn ruộng cấy lúa nước đạt lkg, 2 năm đạt 2 - 4kg. Những nơi nhiều thực vật thuỷ sinh, cá trắm cỏ 3 năm có thể đạt 9 - 12kg/con. Trên những khu ruộng trũng, canh tác lúa bấp bênh vào vụ hè thu mùa, nếu chuyển đổi sang nuôi cá ruộng, thả một lượng cá trắm cỏ thíẹh hợp, sản lượng chung có thể đạt được trên 1 tấn/ha/năm. Cá rô phi Ở Việt Nam hiện đang có 3 loài cá rô phi được nuôi phổ biến - Oreochromis mossambỉcus pelers, còn gọi là phi đen, phi sẻ, phi cỏ, được nhập vào Việt Nam năm 1953. - Cá rô phi vằn - Oreochromts niloticus được nhập vào miền Nam Việt Nam từ Đài Loan, sau chuyển ra nuôi ở miền Bắc 1976, năm 1998 loài này được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 nhập lại từ Thái Lan, trong chuyên môn gọi là dòng Thái. - Cá rô phi đỏ điêu hồng được nhập vào Việt Nam từ Đài Loan nặm 1983, là một dạng biến dị của cá rô phi vằn. Hiện nay Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sẫn 1 đang có dòng cá rô phi vằn nhập từ Philippines, được gọi là dòng “gíp” GIFT. Cá này lớn nhanh, thành thục sinh dục muộn, và loài cá rô phi xanh cũng nhập từ Philippines, dùng làm vật liệu cho lai với o niloticus tạo ra cá siêu đực thương phẩm thay vì dùng phương pháp sử 18 40 Vấn đễ kết hợp nuôi tôm cá trên ruộng cấy lúa nước hoá học bằng hoocmon 17 - a methyl- testosteron MT17. Cá mè vinh Tên la tinh Puntius gonionotus biếc kết 1850 là loại cá nuôi phổ biến tại các nước Đông Nam Á; ở nước ta, cá mè vinh có quê hương từ miền Tây Nam Bộ, cá có kích thước nhỏ thông thường; ở 1 tuổi cá nặng 300 - 350g/con; tuổi thứ hai được 400 - 500g/con. Cá cố nhiều xương, nhưng thịt cá thơm ngon như cá diếc. Cá mè vinh sống được ỏ nhiều vùng nước ngọt như ao, hồ, kênh, mương, ruộng. Cấ ăn tạp, thiên về thực vật, cá 4 tuần tuổi đã ăn được bèo tâ^m, cám gạo, mùn bã hữu cơ. Cá mè vinh là loài cá dễ nuôi, thường thu hoạch vào năm thứ hai khi cá đạt 400 - 500g/con, cá mè vinh được di giống, thuần hoá ra các tỉnh phía Bắc từ những năm 1990. Với đặc tính ăn thực vật, chết lượng thịt cao, cá đã và đang trở thành đổì tượng nuôi ưa thích, đặc biệt ở trên ruộng. CÂU HỎI 10 NGOÀI CÁ, TRÊN RUỘNG CÒN có THỂ NUÔI ĐƯỢC ĐỐI TƯỢNG THUỶ SẢN NÀO KHÁC KHÔNG? Trả lời Ngoài cá, trên ruộng còn có thể kết hợp nuôi được tôm càng xanh. Kỹ thuật này được áp dụng tại các tình phía Nam từ lâu. Từ năm 2002, Hà Nội đã làm thực 19 40 Vân đề kết hợp nuôi tôm cá trên ruộng cấy lúa nước nghiệm. Theo các tác giả này, nuôi tôm càng xanh kêt hợp trên ruộng cấy lúa có thể thu được 1 tấn/ha/vụ. Muôn vậy, cần bổ sung thức ăn tình hàng ngày. Nuôi tôm cành xanh trên ruộng Diện tích ruộng nuôi tôm kết hợp nên có diện tích - Việc kiên thiết đồng ruộng nuôi tôm cũng giống như nuôi cá nghĩa là phải có mương, chuôm cho tôm trú; ngoài ra, trong mương con nên thả chà cho tôm trú. Có thể thả tôm giông trước hay sau khi cấy lúa xuân, mật độ thả từ 3 - 5 con/m2. Lượng thức ăn cho hàng ngày bằng từ 1 - 2% tổng khối lượng tôm 2 tháng đầu cho 1,2 -1,5%. Khi nuôi tôm trên ruộng, cần định kỳ thay nước hoặc bổ sung nước thường xuyên, tạo điều kiện thuận lợi cho tôm lột xác; nếu thiếu nước, có khi tôm không lột xác được không lớn. Cách cho ăn tương tự như nuôi trong ao. CÂU HỎI 11 KHI NUÔI CÁ TRÊN RUỘNG, c ó THỂ PHUN THUỐC TRỪ SÂU KHÔNG? Nhìn chung, nên hạn chế phun thuốc khi nuôi tôm, cá trên ruộng. Các giông lúa cấy xen canh nên chọn những giông kháng bệnh. Cá nuôi trên ruộng ăn sâu, rầy; tham gia bảo vệ cho lúa. Khi cần thiết, vẫn có thể phun thuốc bảo vệ Trước đó, tháo cạn nước cho tôm, cá rút xuống mương chuôm, rồi mới phun, thuốc phun, nên sử dụng 20 40 Vãn đê kêt hợp nuôi tôm cá trên ruộng cấy lúa nước các loại có nguồn gốc thực vật. Sau khi phun xong, chờ từ 3 - 5 ngày, cho đến khi thuốc “hả” hết mới từ từ dâng nước cho cá lên kiếm mồi. Trong thời gian cá bị giữ dưới mương, hàng ngày cho cá ăn bằng thức ăn tinh 2 - 3% tổng khôi lượng cá để cá khỏi bị đói. CÂU HỎI 12 CÓ THỂ ƯƠNG CÁ GIỐNG TRÊN RUỘNG KHÔNG? Đối với những chân ruộng nuôi cá thịt ít thuận lợi có thể ương cá giống. Thường thả cá hương cá 2,5 - 3cm vào tháng 4-5, thu cá giông vào cuôì năm, làm cá “giống lưu” cho nuôi cá thịt. Mật độ thả từ 1 - 2 con/m2. sản m • • lượng cá giống cũng đạt được từ 400 - 600kg/ha, cỡ cá trên 50g/con lkg khoảng 20 con. Cá giông ương trên ruộng không những cho hiệu quả kinh tế cao mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho bà con nuôi cá thịt vì giống đảm bảo quy cỡ. CÂU HỎI 13 TỒI NGHE NÓI NUÔI TRỔNG KẾT HỢP CÁ - LÚA SẼ MANG LẠI HIỆU QUẢ “HAI TRONG MỘT”. XIN CHO BIẾT THÊM THÔNG TIN VỀ VIỆC NÀY? Trả lời Kết quả điều tra tình hình sâu bệnh hại lúa trong ruộng nuôi cá và không nuôi cá cho thây bệnh khô vằn 21 -
kỹ thuật nuôi cá kết hợp trồng cây